Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

Trong thế giới âm thanh hi-fi, không có thiết bị nào là hoàn hảo tuyệt đối. Bất cứ thiết bị nào được tạo ra cũng đều hướng đến một nhóm đối tượng có nhu cầu cụ thể.
Vì thế người chơi âm thanh cần có sự định hướng đúng đắn theo yêu cầu và khả năng của mình để mau đạt mục đích và tránh tốn kém. Bài viết dưới đây sẽ chia sẻ phần nào quan điểm đó cùng các bạn.

Giàu cảm xúc và tinh tế, nằm giữa ba nhóm chính đó là ba nhóm phụ – Mạnh mẽ, Mượt mà và Rực rỡ. Mỗi thiết bị hoặc thương hiệu đều có thể xếp vào một trong số những nhóm đó. Cách phân loại dưới đây chỉ toàn mang tính gợi ý, tham khảo, không phải là cách phân loại chính thức và chính xác tuyệt đối.


CHẤT ÂM CHÍNH XÁC
Những thiết bị thuộc nhóm này thường thuộc về thế giới âm thanh nhà nghề hay chuyên nghiệp (còn được dân chơi gọi là âm thanh pro). Với những chỉ số kỹ thuật đo lường ấn tượng, dải tần rộng và độ méo siêu thấp, những thiết bị thuộc nhóm này có sứ mệnh thể hiện lại trung thực tới từng chi tiết nhỏ bé và tinh tế nhất của âm nhạc. Tuy mọi nhà sản xuất đều nói rằng sản phẩm của mình có khả năng tái hiện lại âm thanh chính xác, nhưng những thương hiệu tập trung trong nhóm chất âm này thường đưa ra những thông số kỹ thuật và đo lường phức tạp nhằm thoả mãn người nghe, và đặc biệt là những kỹ sư làm việc trong ngành thu âm, những người đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối từ các thiết bị của mình. Tuy rất phổ biến và được ưa chuộng trong thế giới công nghiệp âm thanh, đối với người nghe thông thường tại gia, đây lại là nhóm chiếm thiểu số.
Ưu điểm
Chất âm cực kỳ chính xác và khả năng nghe được nhiều chi tiết trên đĩa CD hoặc vinyl là những gì người nghe trông đợi ở nhóm âm thanh này. Với nhiều người, đây không phải là chất âm dễ nghe và mang tính thưởng thức, thư giãn – bởi âm thanh hướng rõ rệt về phía trước. Tiếng bass lớn, đôi khi còn hơi khô và toàn bộ dải tần phẳng tuyệt đối.

Nhược điểm
Chính ưu điểm của loại âm thanh này cũng là nhược điểm – nhiều người cho rằng âm thanh quá chính xác sẽ vạch trần ngay cả những chi tiết không tốt, và bởi những đĩa thu âm kém thì âm thanh sẽ trở nên tệ hại và khó nghe. Ngoài ra, đôi khi bạn sẽ thấy tiếng treble bị chói gắt, toàn bộ dải âm nói chung khô cứng và lạnh, không có hơi ấm và sức sống chân thực.
Các thương hiệu nổi bật
Có không ít thương hiệu loa pro thuộc nhóm này như: Pioneer/Tad, ATC, PMC, Adam, Lipinski, JBL Monitor… được thiết kế dành riêng cho các studio chuyên nghiệp. Nhiều người nghe bình thường có sở thích âm thanh chính xác cũng sử dụng các loại loa nói trên cho hệ thống âm thanh hi-fi gia đình. Về ampli, các hãng như Bryston, Chord hay Gamu T cũng được coi là dòng ampli có tính chính xác cao, hay được dùng cho studio tuy nhiên gần đây họ có tách rời phân khúc pro và home. Một số thương hiệu như B&W hay Wilson Benesch cũng dòng sản phẩm pro và dòng sản phẩm cho gia đình thuôc nhóm này và đã quá nổi tiếng trong thế giới hi-end, chúng cũng có âm thanh đặc trưng riêng mang màu sắc chuyên nghiệp.


CHẤT ÂM TINH TẾ
Là chất âm phổ biến và được ưa chuộng nhất đối với các audiophile hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của đại đa số người nghe, và thường là chất âm được ngợi ca nhiều nhất bởi các chuyên gia âm thanh cũng như các trong các tạp chí chuyên về âm thanh hi-fi, hi-end.
Ưu điểm
Chất âm này nổi bật với đặc tính mềm mại và cân bằng trên toàn bộ dải tần, không có cảm giác chói gắt hay khô cứng của nhóm âm chính xác nói trên. Tiếng bass mạnh nhưng vẫn có độ êm, dải trung mượt và tiếng treble rực rỡ, làm thoả mãn hầu hết mọi người nghe.

Chơi âm thanh đừng tìm tuyệt đối!
Nhược điểm
Những ai không thích chất âm tinh tế thường cho rằng âm thanh của loa và thiết bị khó có thể kết hợp sao cho phù hợp với mọi người nghe. Có thể ampli và đầu đĩa đã có đủ bass và dynamic rồi, nhưng đưa thêm cặp loa cũng thộc nhóm này vào có thể làm âm thanh trở nên lạ thường và khó nghe. Đa phần những người thích chất âm này thường nghe nhạc jazz và cổ điển, chứ không phải là thính giả của pop, rock hay hip-hop.

Các thương hiệu nổi bật
Những tên tuổi nổi bật của nhóm âm thanh tinh tế này thường là những thương hiệu rất phổ biến và đã thành “huyền thoại”. Loa của ProAC, Wilson Audio, B&W, Vandersteen, Thiel, Genesis, và thiết bị khuechs đại cùng đầu đĩa của Mclntóh, Mark Levínon, Krell, Musical Fidelity, VTL, Halcro và Audio Reseach thường rơi vào nhóm này.


CHẤT ÂM GIÀU CẢM XÚC
Đây được coi là các thiết bị có lịch lâu đời nhất, nhưng cũng tồn tại và phát triển bền bỉ nhất. Các loa thuộc nhóm chất âm này thường duy nhất một củ loa toàn dải với độ nhạy cao và công suất thấp. Các hãng thiết kế không quan tâm nhiều tới độ rộng và độ bằng phẳng của dải tần, cũng như độ méo khá cao… trái lại họ thường chú ý tới phẩm chất âm thanh ấm áp và sống động, truyền cảm. Thêm vào đó, các ampli thuộc nhóm này thường là loại SET (Single End Triode) với công suất thấp chỉ khoảng dưới 15W, nhưng lại có âm thanh lôi cuốn. Nhiều hãng sản xuất có hàng chục model ampli SET, sử dụng nhiều loại đèn cổ chí kim khác nhau, nhằm tạo ra nhiều màu âm đáp ứng yêu cầu của những ai thích chất âm này.
Ưu điểm
Nhờ sử dụng loa toàn dải và đèn điện tử, nên chất âm thanh nhưng lại tinh tế, ấm áp và nồng nàn cảm xúc. Loa toàn dải của Lowther hay Fostex có tốc độ phản ứng cực nhanh nhờ khối lượng màng loa và cuộn dây động cực thấp. Thêm vào đó, loa và ampli thuộc nhóm này hướng mục tiêu tối quan trọng là đường đi của tín hiệu phải ngắn gọn và trong sạch tuyệt đối, để đạt được điều này, người thiết kế phải cố gắng làm đơn giản hoá mạch điện và loại bỏ những linh kiện không cần thiết. Chính sự đơn giản của mạch điện, nhất là khi dùng đèn điện tử không có hồi tiếp âm (zero feedback), đã đem lại chất âm cảm xúc và rất gần với nhạc sống của nhóm này.

Nhược điểm
Có thể thấy rõ rằng tiếng bass là nhược điểm rõ rệt nhất của dòng âm thanh này: Loa với duy nhất một driver không thể nào tái hiện lại tiếng bass mạnh mẽ như một loa cột lớn 3 đến 5 đường tiếng với hai loa bass 10in. Tương tự, ampli đèn với công suất thấp khó có thể sánh bằng những ampli bán dẫn 200W về sức mạnh. Công suất thấp, cùng với đáp tuyến tần số thiếu cân bằng, nhiều người không thích những gì mà nhóm chất âm này đem lại. Nhưng ngược lại, cũng có một số không nhỏ người nghe ngợi ca cảm xúc như thật mà dòng âm thanh này mang lại cho họ.

Các thương hiệu nổi bật
Về loa, có một số hãng lớn như Cain& Cain, Omega, Rethm và Beauhorn tập trung thuần tuý vào chất âm này, trong khi một số hãng khác chuyên sản xuất driver như Fostex, Lowther, Supravox, PHY-HP, AER và Hartley. Còn về ampli, có nhiều hãng chuyên sản xuất ampli dùng đèn 300B, 211 hay 2A3, như Audio Note Kondo, Audio Note UK, Art Audio, Cary, Air Tight, Shindo và KRAudio… Ngoài ra còn có khá nhiều hãng nhỏ hơn hay chế tạo ampli SET hand-made. Phần lớn những sản phẩm ampli tự ráp (DIY) cũng thuộc nhóm âm thanh này.

CHẤT ÂM RỰC RỠ
Kết hợp đặc tính của hai nhóm chính xác và giàu cảm xúc, chất âm rực rở có đặc điểm là âm thanh hơi”hướng” về phía trước và giàu chi tiết nhưng cũng vẫn nồng ấm và ngọt ngào. Đây là một chất âm được nhiều người yêu thích, âm thanh đặc biệt sống động với dải trung đầy đặn, và tiếng bass lớn, tuy đáp tuyến không hoàn toàn phẳng.
Nhiều ampli đến từ những nhà sản xuất như Bel Canto, B&O (cùng các ampli ICEpower khác), Hypex, Tripath và chip-amps, nói chung có âm thanh chính xác nhưng lại vẫn có được sự ngọt ngào mượt mà giàu cảm xúc. Các thương hiệu như E.A.R và Manley Labs cho ra đời những ampli đèn đáp ứng được cả hai thị trường pro và home.
Còn về loa, các hãng loa như Joesph Audio và Tetra của Hoa Kì hay Linn, Harbeth, ProAc, Spendor… của Anh, đều thuộc nhóm này, và chất âm rực rỡ là đặc trưng có thể nhận thấy nhanh chóng của họ.

Chơi âm thanh đừng tìm tuyệt đối!
CHẤT ÂM MƯỢT MÀ
Khác với chất âm rực rỡ, nhóm mượt mà chọn con đường tinh tế hoá nhóm chất âm giàu cảm xúc.
Một số thương hiệu loa mới nổi như Zu và DeVore tiếp tục duy trì được đặc trưng đơn giản nhưng hiệu quả của chất âm giàu cảm xúc, nhưng bổ sung thêm thùng loa độc đáo và áp dụng những công nghệ loa con (driver) tiên tiến để cải thiện chất âm toàn dải và đạt được độ động tốt. Tiếng bass và treble được mở rộng hơn, tiếng trung không bị đẩy quá hướng về phía trước mà có giới hạn và dễ kiểm soát hơn.
Nhiều ampli đèn đẩy kéo thuộc về nhóm này: Cary, Shindo, Air Tight, Rogue, Zanden,v.v. Chúng đều mang trong mình chất âm nồng ấm của ampli đèn, nhưng không quan tâm nhiều tới độ chi tiết cao, thay vào đó là cảm giác mượt mà dễ nghe. Một số ampli bán dẫn tiếng êm như của Accupháe hay Mẩntz cũng có thể xếp vào nhóm chất âm này.


CHẤT ÂM MẠNH MẼ
Thị trường chủ yếu của nhóm này là Bắc Âu. Đáp tuyến tần số của các thiết bị trong nhóm này khá phẳng, nhưng thay cho âm thanh ấm áp nồng là cảm giác ấn tượng, phối hợp được cả sự chính xác lẫn tinh tế, đồng thời lại có thể tạo ra không gian lớn, mạnh mẽ về lực.
Ba hãng sản xuất loa con (driver)chính của chất âm này là Dynaudio, Scan Speak, và gần đây là Audio Technology (đều của Đan Mạch). Những thương hiệu thành phẩm loa hoàn chỉnh đáng kể bao gồm Dynaudio Speakers, Peak Consult, Audio Phýíc, GamuT, cùng những hãng nhỏ hơn như Kharma, MBL, Dali, Marten Design, Canton…, và nhiều hãng khác sử dụng driver của 3 hãng loa trên. Do thiết kế thùng, phân tần khác nhau, mỗi hàng đều có đặc trưng âm thanh của riêng mình, nhưng đều đóng góp vào sự phát triển của thị trường chất âm mạnh mẽ.
ĐI TÌM CHẤT ÂM MONG MUỐN
Khi bắt tay vào việc tạo nên một hệ thống âm thanh mới, cách phổ biến nhất là chọn các thiết bị có chất âm cùng thuộc nhóm. Ví dụ ampli mang chất âm giàu cảm xúc nên đi cùng loa có cùng chất âm. Mặt khác, chẳng hạn nếu bạn kết hợp loa có chất âm chính xác với ampli có chất âm giàu cảm xúc, kết quả đạt được thường sẽ là trung gian – một hệ thống với chất âm rực rỡ.
Dĩ nhiên không phải bao giờ cũng vậy. Nhiều loa hay ampli có đặc trưng âm thanh quá mạnh, tới mức chúng trở nên áp đảo những âm thanh còn lại. Một đôi loa tinh tế có thể khiến hệ thống của bạn luôn có chất âm đó, bất kể bạn dùng ampli có chất âm thế nào đi nữa. Ngược lai, có nhiều ampli hay loa có chất âm không dễ nhận ra, vì vậy việc thay đổi preamp sẽ khiến âm thanh của toàn hệ thống cũng dễ dàng thay đổi theo.
Tóm lại, không hề có sự tuyệt đối trong thế giới âm nhạc – không có thiết bị nào là hoàn hảo hoặc hay nhất cả, cũng không có chất âm nào vượt trội cả. Tất cả tuỳ thuộc vào sở thích , phòng nghe, cách bố trí hệ thống và nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan khác. Điều quan trọng là bạn phải dành thời gian thử nghiệm để tìm ra con đường thích hợp nhất cho mình, không phải là con đường tốt nhất bởi không có gì là tốt nhất cả.
Để biết thêm thông tin chi tiết về sản phẩm và được tư vấn âm thanh tốt nhất xin liên hệ với chúng tôi AUDIOHANOI - ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI ÂM THANH CHÍNH HÃNG.

Địa chỉ: 50 Lê Ngọc Hân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 0985 547 778


Website: audiohanoi.com - audiomart.vn


Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

Một trong những thông số cơ bản nhưng khá hữu ích khi tham khảo loa là độ nhạy (sensitivity) được đo bằng decibel (dB). Đó là con số chỉ ra loa sẽ kêu to đến mức nào trong một mức điện đầu vào. Độ nhạy có thể đo bằng nhiều cách. Tuy nhiên, ngành công nghiệp audio có một phương pháp tiêu chuẩn chung để độ nhạy ở các loa khác nhau có thể dễ dàng so sánh với nhau.
Với khoảng cách 1m, mức điện áp tiêu chuẩn đầu vào là 2,83 volt, được hiểu là tương ứng với 1 watt nếu loa “đánh” với ampli ở mức trở kháng 8 ohm.
Nơi lý tưởng nhất để đo thông số này là trong một phòng không có tiếng vọng. Đây là phòng lớn, được cách âm, có các tấm tiêu âm phủ kín mọi bề mặt của tường, trần, sàn để loại bỏ hiện tượng dội âm. Về cơ bản, phòng này phỏng theo một không gian tự do không có giới hạn dội lại, nghĩa là thứ duy nhất được đo là âm thanh phát ra từ loa chứ không có âm thanh dội lại từ tường, sàn, đồ đạc…


Lansche No.3 – Độ nhạy 91dB

Mức điện áp tiêu chuẩn đầu vào là 2,83 volt, được hiểu là tương ứng với 1 watt nếu loa “đánh” với ampli ở mức trở kháng 8 ohm. Công suất ra của loa đo bằng watt được tính bằng công thức bình phương hiệu điện thế / trở kháng. Trong trường hợp này là 2,832 / 8 = 8,0089/8 =1. Nếu trở kháng là 4 ohm thì công suất sẽ là 2 watt.
Sau đó, sẽ phải đo đầu ra của loa thường được nhắc đến bằng mức nén âm thanh (SPL) và thể hiện ở số decibel. Người ta đo bằng cách đặt một microphone ở ngay phía trước loa. Cần chú ý phải đo đúng cùng một khoảng cách cho tất cả các loa, thường là 1 mét. Ở loa 3 đường tiếng, đặt micro ở giữa tweeter và mid, ở loa 2 đường tiếng, đặt micro ở giữa tweeter và mid-woofer.
Ngoài ra, không chỉ đo độ nhạy của loa chỉ ở một tần số rồi cho đó là đủ. Không giống ampli, loa luôn biến đổi trong đáp ứng tần số, có thể là +- 3dB, tùy vào các tần số.
Như vậy, khi nhìn những con số như 2,83V/m, bạn sẽ hiểu hơn về nó: loa được đo bằng điện áp đầu vào 2,83 volt, microphone được đặt cách mặt loa 1 mét. Còn cách viết 2,83V/2m nghĩa là microphone đặt cách mặt loa 2 mét. Ở 2,83V/m, hầu hết các loa sẽ cho output ở khoảng 80-90 dB, mức trung bình khoảng 87dB. Để tiện so sánh, tiếng chuông điện thoại di động có độ nhạy 80dB, tiếng xe tải chạy trên đường là 90dB, tiếng nói chuyện bình thường là 60dB. Do đó, với 2,83 volt, loa cho lượng âm thanh không phải là nhỏ.

Sonus Faber Fenice – Độ nhạy: 92dB

Tuy nhiên, trong khi 1 watt có vẻ như tạo ra độ lớn âm thanh đáng kể, một số người có thể nghĩ rằng không có khác biệt lớn giữa 80dB và 90dB. Kỳ thực, chệnh lệch 10dB có thể tương đương với việc bạn bật gấp đôi volume. Loa chơi ở mức 90dB nghe to như gấp đôi so với 80dB.
Để tăng output lên khoảng 3dB nữa sẽ đòi hỏi tăng gấp đôi công suất ampli. Như vậy, bạn sẽ nhận ra là cần rất nhiều công suất ampli để đưa loa có độ nhạy thấp lên mức output cao. Đó là lý do tại sao người ta mua ampli công suất thấp đi liền với loa có độ nhạy cao và ampli công suất cao đi với loa có độ nhạy thấp.
Theo Nghe nhìn Việt Nam

Để biết thêm thông tin chi tiết về sản phẩm và được tư vấn âm thanh tốt nhất xin liên hệ với chúng tôi AUDIOHANOI - ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI ÂM THANH CHÍNH HÃNG.

Địa chỉ: 50 Lê Ngọc Hân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 0985 547 778

Website: audiohanoi.com - audiomart.vn


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Jamo D590 chưa phải là đôi loa hay nhất của Jamo nhưng nó đã lại dấu ấn trong lòng cho thế hệ nghe nhạc trước đây. Ở đầu những năm 2000, lúc ấy chưa có nhiều lựa chọn những dòng loa cao cấp ở tầm giá này, D 590 được xem là niềm mơ ước của rất nhiều người. Với “người bạn đồng hành” là Ampli Denon PMA-2000IV thời ấy, bộ đôi đã làm say đắm bao nhiêu người yêu nhạc với nhiều lứa tuổi khác nhau.



Loa Jamo D590 có kích thước khá lớn. Nó có chiều cao đến 106cm, ngang 26cm và sâu 39cm. Loa được thiết kế thân loa có hình bầu dục có tác dụng triệt sóng đứng hiệu quả. Đầu loa là được lắp tấm kiếng đen rất sang trọng. Bốn chân loa được gắn trên tấm gỗ và bắt dưới đáy loa. Lỗ bass reflex nằm sau loa, bên trên bốn cọc đấu loa loại bi-wire. Thoạt nhìn D 590 có vẻ như chỉ có 3 loa với 2 dải tần. Nhưng không, loa bass với đường kính 20 cm được bố trí nằm úp dưới đáy loa. Như vậy D 590 có tất cả là 4 loa với 3 dải tần.

Loa trung của Jamo D590 được chế tạo khá đặc biệt. Khung loa được đúc từ một loại nhựa cứng cáp và vững chắc. Chất liệu này không bị từ hóa bởi nam châm của loa nhờ đó từ trường xung quanh loa sẽ được cân xứng tuyệt đối. Điều này cũng có ý nghĩa hạn chế hiện tượng méo tiếng. Jamo cho biết sự cải tiến này nâng độ nhạy âm trung lên 1dB. Màng loa được chế tạo từ các sợi thủy tinh đã qua đặc chế, sau đó được định hình với một hợp chất nhựa, giúp màng loa nhẹ mà cứng hơn, màng loa sẽ di chuyển nhanh hơn và ít quán tính hơn. Hiệu quả mang lại là tái hiện trung âm một cách sống động, chi tiết.
Loa treble của D 590 được thiết kế nằm giữa hai loa trung, điểm xuyến bằng các ốc vặn xung quanh trên các nắp chặn loa trông rất điệu nghệ.
Loa bass lại khác hoàn toàn với loa trung. Khung loa vẫn làm bằng kim loại bình thường. Màng loa làm bằng giấy chuyên dụng phủ chất dẻo và được đặt nằm úp xuống đáy của thùng cách sàn 2 cm. Đặc điểm của thiết kế độc đáo này là Jamo D 590 không kén chọn vị trí đặt loa trong phòng. Hầu như mọi vị trí đều cho ra âm trầm hoàn hảo. Thật dễ chịu cho các bạn chưa có phòng riêng để nghe nhạc.
Bộ phân tần (crossover) gồm 5 cuộn cảm, 5 tụ điện, một trở ceramic. Tất cả liên kết với nhau thông qua dây đồng OFC nhiều sợi được làm tại Đan Mạch. Bộ phân tần này được nối với bộ cọc loa 2 cầu mạ vàng. Tất cả các linh kiện trong mạch phân tần đều được nối trực tiếp với nhau không qua đường mạch in nhằm đảm bảo sự trung thực tối đa của âm thanh. 


Tóm lại, bằng sự trở này, Jamo vẫn chứng minh được mình là hãng loa được yêu chuộng cũng như có số lượng bán ra lớn nhất tại Việt Nam. Hơn nữa loa Jamo D 590 cũng đáp ứng nhu cầu cho những ai đã từng muốn sở hữu đôi loa này nhưng bỗng nhiên hết hàng trước đây cũng như cho các bạn yêu nhạc muốn trải nghiệm trên đôi loa có “tuổi đời” thuộc hàng lão làng này!
Một số hình ảnh về loa Jamo D590:



Theo AudioHaNoi


Để biết thêm thông tin chi tiết về sản phẩm và được tư vấn âm thanh tốt nhất xin liên hệ với chúng tôi AUDIOHANOI - ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI ÂM THANH CHÍNH HÃNG.

Địa chỉ: 50 Lê Ngọc Hân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 0985 547 778

Website: audiohanoi.com - audiomart.vn


Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

DAC = Digital to Analog Converter. Thông thường nói DAC là chỉ nói đến bộ chuyển đổi từ tín hiệu số S/PDIF từ ngõ Optical hoặc từ ngõ Coaxial thành tín hiệu âm thanh ra amplifier , headphone…
Cũng như các thiết bị khác, mỗi DAC đều mang một “màu âm” riêng. Sản phẩm của mỗi hãng cũng có những đặc trưng âm thanh khác nhau. Điều này khiến người chơi khá lúng túng khi chọn lựa, song lại tạo ra vô số cơ hội để họ tìm được sản phẩm phù hợp nhất với gu nhạc và hệ thống giàn âm thanh của mình. Những khác biệt ấy có thể nói chính là ý nguyện mà các nhà sản xuất gửi gắm vào sản phẩm với mong muốn mang lại “đường nét” riêng cho chúng. Vậy bí quyết để đánh giá và lựa chọn DAC là như thế nào?
Câu trả lời hoá ra khá đơn giản. Bạn phải căn cứ vào chính bộ dàn của mình để tìm xem nó cần một đối tác như thế nào và chọn lựa theo tiêu chí: thiết bị mua về phải thể hiện thành công nhất thể loại nhạc và phong cách trình diễn mà bạn yêu thích.
Chọn một thiết bị nguồn digital tương hợp với giàn âm thanh đôi khi còn khắc phục được khiếm khuyết của bộ giàn ấy. Ví dụ nếu hệ thống sẵn có của bạn nghe hơi chói chang thì bạn không nên chọn DAC thiên sáng, chính những đầu CD chơi tiếng treble mềm mại, nhẹ nhàng sẽ bù đắp được nhược điểm này. Mỗi  sản phẩm đều có ưu nhược điểm của nó nên chỉ bằng cách nghe thử thật kỹ, đặc biệt là với hệ thống của mình, bạn mới có thể chọn được sản phẩm tốt nhất.
Để minh hoạ cho điều này, chúng ta giả định có hai người nghe nhạc với sở thích khác nhau, họ đang cần mua một bộ DAC cho dàn của mình (bộ DAC ở đây tượng trưng cho tất cả các thiết bị phần nguồn âm digital).
Đến đây thì bạn đã có thể đoán được DAC nào nên ghép với hệ thống của người nghe A hay B. Bộ DAC số 1 chỉ có thể làm tăng độ sáng mà hệ thống của người nghe A đã có quá nhiều. Bên cạnh đó, những âm thanh bị sạn của nó còn gây phản cảm đối với tiếng đàn violon và giọng ca. Tiếng bass chắc và mạnh của bộ DAC này cũng không mấy quan trọng với gu nghe nhạc của người nghe A. Tuy nhiên, DAC 2 lại có khả năng làm mềm tiếng treble của hệ thống và trút bỏ sự nặng nề mà âm treble gắt gỏng kia gây ra. Ngược lại, bộ DAC 1 là sự lựa chọn hợp lý với người nghe B. Nó không chỉ tăng cường độ và sự chắc chắn trong tiếng bass giúp thoả mãn khiếu nhạc của anh ta, mà còn làm cho âm treble sắc hơn, âm bass căng hơn.
Ví dụ trên nói về hai trường hợp đối lặp nhau, thực tế đôi khi không rành mạch như vậy. Cách duy nhất để có thể mua đúng sản phẩm bạn cần là hãy nghe thử bằng chính đôi tai mình. Hãy xem và kham khảo các tạp chí về âm thanh và căn cứ vào “túi tiền” của bạn để giới hạn số lượng sản phẩm nghe thử. Đọc kỹ một bài giới thiệu về sản phẩm để xem phong cách trình diễn của nó có phải là thứ bạn đang tìm kiếm. Bạn cũng cần cân nhắc khi mua sản phẩm mà bạn chỉ dựa vào bài viết bởi hệ thống âm thanh mô tả trong đó chưa chắc đã giống hệ thống của bạn. Có khi bạn thuộc tuýp người nghe như A còn bài bình luận do một tác giả sở hữu hệ thống âm thanh và nghe nhạc theo sở thích của anh B.
Theo kinh nghiệm, thiết bị đắt tiền chưa hẳn đã tốt. Bạn đừng băn khoăn về khoản ngân quỹ có hạn của mình mà hãy nghe thử các sản phẩm ở tầm giá bạn có thể mua được. Một sản phẩm vừa tiền mà lại được một người bạn tin tưởng khen ngợi với phong cách trình diễn âm thanh hợp sở thích của mình thì bạn chớ ngần ngại nghe thử. Có khi bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền đấy! Nếu bạn không mua sản phẩm đó thì ít nhất bạn cũng làm giàu thêm kinh nghiệm nghe thẩm định của mình và có thể so sánh ấn tượng của mình về thiết bị với người viết bài trên báo.
Có một số đặc điểm trong trình diễn âm thanh mà bạn cần chú ý khi tìm mua thiết bị phần nguồn digital như sau:
Thứ nhất là “bức tranh âm thanh toàn cảnh” sẽ cho bạn cảm nhận chung nhất về âm thanh của một thiết bị digital. Dàn trải, nhẹ nhàng, hài hoà hay chói sắc, nổi ra hay chìm về phía sau? Nó khiến bạn “thả hồn” cùng âm nhạc hay phải căng tai để nghe? Tóm lại là bạn cảm thấy thu giãn hay mệt mỏi khi nghe sản phẩm đó?
Bức tranh âm thanh toàn cảnh của một sản phẩm kỹ thuật số là điều cơ bản cho thấy khả năng thoả mãn lâu bền hay chóng vánh với nhu cầu nghe nhạc của bạn. Nếu bạn cảm thấy mình bị âm nhạc “tấn công”, bạn sẽ ít nghe hơn, và mỗi lần nghe, thời lượng cũng giảm. Nếu bức tranh tổng thể này không hợp sở thích của bạn thù cũng phẩm chất khác dù tốt đến mấy cũng không còn mấy giá trị.


Thứ hai là bạn cần chú ý đến đặc tính âm thanh của thiết bị digital. Âm thanh của các đầu đọc hay DAC tốt thường được mô tả như: êm dịu, mượt mà, giàn trải, ngọt ngào, tao nhã và hài hoà. Các từ như: sáng, chói, sắc, dồn dập, trực tiếp, sắc nhọn, quá chi tiết, lấn át dùng để chỉ chất lượng trình diễn của thiết bị tồi.
Tuy nhiên đối với các sản phẩm tầm tiền vừa phải, cũng nảy sinh một mâu thuẫn khó giải quyết giữa hai phong cách đối lập trên. Đó là những đầu CD hay bộ DAC cho âm thanh mượt mà, giàn trải và hài hoà thường lại trình diễn kém chi tiết. Việc loại trừ được sự dồn dập, lấn át trong âm thanh thường phải đánh đổi bằng sự yếu đuối của các tín hiệu tần số thấp. Chẳng hạn những tiếng trống mạnh mẽ nếu được tái hiện một cách mềm mại thì không thể diễn tả độ động của âm thanh. Vì thế, độ phân giải của các đầu đọc hoặc DAC có âm thanh mượt mà thường thấp hơn so với các sản phẩm có âm thanh hướng về phía trước.
Ngược lại, thiết bị trình diễn chi tiết một cách “phô trương” thì cũng khó có thể chấp nhận. Thay vì tái hiện tinh tế, nó thổi phồng các chi tiết ấy lên. Có thể với một người, họ sẽ thích những âm thanh có vẻ sôi nổi hào hứng ấy, nhưng rồi chẳng sớm muộn, họ cũng sẽ cảm thấy mệt mỏi, và khi tắt nhạc đi thì “thở phảo” như trút được gánh nặng! Điều tệ hại nhất mà một thiết bị âm thanh có thể “làm được” là khiến người nghe chỉ muốn vặn nhỏ volume xuống hoặc tắt máy đi.


Có một giải pháp khá hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là thiếu tính chi tiết và một bên là lại cường điệu hoá chi tiết là mua đầu đọc hoặc DAC có chất lượng cao. Chúng sẽ dung hoà được hai nhược điểm này để đạt được trình độ tái hiện là chi tiết, sống động, trung thực mà vẫn tinh tế. Tiếc thay, không phải ai cũng có thể bỏ ra mấy ngàn USD để sở hữu một sản phẩm như thế.
Thứ ba, bạn cần chú ý đến âm sắc và vị trí các nhạc cụ trên sân khấu âm thanh. Nhiều đầu đọc xoá nhoà những âm sắc riêng và sự tinh tế trong âm thanh của mỗi nhạc cụ; âm sắc của các nhạc cụ nghe na ná nhau khiến người nghe cảm thẩy toàn bộ giàn âm thanh được thể hiện bằng một nhạc cụ  lớn chứ không phải nhiều nhạc cụ khác nhau. Hoặc tính ba chiều của sân khấu âm thanh bị triệt tiêu. Khoảng cách giữa chúng trong không gian âm thanh cũng không rõ ràng, mà lẽ ra, âm hình của chúng phải được khắc hoạ sắc nét. Với các thiết bị analog thì công việc này chẳng khó khăn gì song lại là một thách thức không nhỏ với thiết bị digital. Nên chọn một đĩa nhạc với bức chân dung xuất sắc về âm hình để đem đi thử khi mua đồ sẽ giúp bạn xác định được đầu đọc nào thực hiện tốt công việc này.
Thứ tư, một phẩm chất vô cùng quan trọng khác của thiết bị số cũng là thế mạnh của digital so với analog là độ trong trẻo của sân khấu âm thanh. Chính nhờ tính năng này mà âm nhạc đến tai người nghe mới rộng mở, khoáng đạt và trong vắt như pha lê. Hãy cảm nhận sự trong trẻo của sân khấu âm thanh như khi bạn ngắm thành phố từ trên cao trong một sáng chớm thu, bầu trời cao xanh… bạn sẽ nhìn thấy trong tầm mắt của mình những toà nhà lớn nhỏ, những lùm cây xanh, đường sá… cho tới tận chân trời vẫn hiện lên rõ nét. Nhưng nếu bạn nhìn thành phố vào một ngày mưa hay có sương mù, hẳn là bạn sẽ không thể cảm nhận được vẻ đẹp mênh mang và nguy nga của thành phố…Tương tự như vậy, sân khấu âm thanh mờ đục cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả màn trình diễn.
Trên đây là những đặc điểm chung nhất trong phần tái hiện âm thanh của các thiết bị digital. Bạn cũng rất nên lưu ý tới các khía cạnh khác như: độ sạn của tiếng treble, độ động và nhịp điệu của âm thanh… Tạm gác những vấn đề trên, khi chọn đầu đọc hay DAC, bạn hãy tự hỏi mình: “Nghe nhạc trong bao lâu thì muốn tắt nhạc đi, hoặc giảm âm lượng xuống?” Sự ham muốn khiến bạn phải nghe hết bản nhạc này đến bản nhạc khác là một dấu hiệu chứng tỏ thiết bị nguồn digital nào đó có tốt và phù hợp hay không. Có những thiết bị làm bạn không tài nào tắt được dòng nhạc đang tuôn trào, có thiết bị lại như xui khiến bạn phải đi làm việc khác.
Khả năng gắn kết người nghe với âm nhạc chính là bản chất của âm thanh hi-end. Và đó cũng là tiêu chí cao nhất để đánh giá các thiết bị kỹ thuật ở phần nguồn.
Theo AudioHaNoi

Để biết thêm thông tin chi tiết về sản phẩm và được tư vấn âm thanh tốt nhất xin liên hệ với chúng tôi AUDIOHANOI - ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI ÂM THANH CHÍNH HÃNG.

Địa chỉ: 50 Lê Ngọc Hân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 0985 547 778

Website: audiohanoi.com - audiomart.vn


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Thuở sơ khai......
Được thành lập vào năm 1910 bởi Frederick Whitney Horn với cái tên ban đầu Nippon Columbia Co (tiền thân là tập đoàn thu âm Nhật Bản mang tên Nippon Chikuonki Shokai). Hai năm sau, Nippon Columbia Co chính thức sát nhập với Japan –U.S Recorders Manufacturig để cùng sản xuất và bán hàng. 
Và mãi đến năm 1930 thương hiệu Denon mới chính thức ra đời cùng với sự hợp nhất của Japan Denki Onkyo. Bắt đầu từ đây thương hiệu Denon mới chính thức gắn liền với các thiết bị âm thanh.
denon a100
Ở thủa sơ khai đó, Denon mới chỉ được biết đến là nhà sản xuất đầu đĩa than, cartridge và băng ghi âm cho một số đài truyền hình. Năm 1947 công ty chính thức mua lại toàn bộ tập đoàn Japan Denki Onkyo và bắt đầu xây dựng tên tuổi của một nhà sản xuất Hi-End lừng lẫy sau này. 
Có thể nói, những năm 60-70 của thế kỷ trước là thời kỳ phát triển nhất của Denon. Sau khi cho ra đời bản cartride phono MC stereo đầu tiên vào năm 1951 và tiếp tục phát triển dòng sản phẩm băng ghi âm chuyên nghiệp vào 3 năm sau đó.
Sự nở rộ của các dòng sản phẩm máy ghi âm, đầu đọc băng cassette, máy ghi âm chuyên nghiệp, dàn nghe nhạc stereo, radio, nhạc cụ và máy tính chạy điện… đã giúp cho tên tuổi của Denon trở nên phổ biến hơn.
Tiếp tục đà phát triển hưng thịnh này, những năm thập niên 70, Denon tiếp tục đưa vào sản xuất hàng loạt các dòng thiết bị âm thanh chất lượng cao như ampli, tuner, loa, mâm đĩa than… Đây cũng là thời mốc đánh dấu Denon là nhà sản xuất đi đầu trong việc cung cấp các thiết bị ghi âm cho các phòng thu và là thương hiệu đầu tiên bán các bản ghi LP được thu theo công nghệ kỹ thuật số.
100 năm lịch sử là 100 năm chứng kiến sự thay đổi liên tục của thị trường thiết bị nghe nhìn cũng như các sản phẩm liên quan đến nền công nghiệp này. Mặc dù không phải là một trong những thương hiệu Hi-End thuộc hàng khủng, nhưng các kỹ sư cũng như thiết kế của Denon đã rất cố gắng để có thể duy trì và phát triển thương hiệu này trở thành một thương hiệu Hi-End của số đông.  
Triết lý này đã được duy trì qua nhiều thập kỷ và nhờ đó Denon hiện được biết đến là nhà sản xuất thiết bị audo và home theater có chủng loại sản phẩm đa dạng nhất trên thế giới cùng mạng lưới phân phối rộng khắp toàn cầu.

Bộ dàn nghe nhạc kết hợp những tinh túy của Denon
denon PMA - A100
PMA - A100 tích hợp tất cả những gì tinh túy nhất mà Denon có được.
Chiếc ampli mang mã hiệu PMA –A100 đã được tích hợp tất cả những gì tinh túy nhất, những công nghệ âm thanh tiên tiến nhất mà Denon có được. Kế thừa những chức năng vượt trội với thiết kế mạch đầu ra đẩy kéo single mang tên UHC-MOS, nhờ công suất đầu ra cao hơn và không gặp phải những vấn đề khi đấu song song nhiều thiết bị đầu ra cùng lúc.
denon dcd-a100
Đầu DCD-A100
Qua đó độ chi tiết của âm thanh cũng được cải thiện đáng kế. Chiếc chân đế được làm từ hợp kim gang cũng là một tác nhân giúp giảm độ rung xuống mức tối thiểu và không gây ảnh hưởng đến việc tái tạo chất lượng âm thanh đầu ra.
Cặp đôi tương xứng nhất với chiếc ampli kể trên không thể là một chiếc đầu CD/SACD nào khác ngoài DCD-A100. Sở hữu bộ vi xử lý AL32 cải tiến với DAC 32 bit/19kHz cùng bộ cơ mang tên S.V.H.
Chất lượng âm thanh được tái tạo từ đĩa CD và SACD sẽ luôn ở mức cao nhất. Denon cũng không quên trang bị cho chiếc đầu đọc mang tính dấu ấn 100 này một cổng USB được đặt ngay ở mặt trước giúp dễ dàng kết nối với MP3 hoặc các thiết bị nghe nhạc khác.
Sự kết hợp hoàn hảo với PMA-A100 còn được chăm chút bởi sự đồng nhất trong thiết kế cũng như lớp sơn phủ đen bóng trải đều toàn bộ bề mặt của cả 2 sản phẩm.
Và cuối cùng là chiếc tai mang mã hiệu AH-A100. Không hề là một chiếc tai nghe đơn thuần, AH-A100 được ốp bằng gỗ gụ sơn piano bóng, vành tai và dải đeo được làm bằng da thật. Sản phẩm này sẽ giúp cho những ai muốn kiểm nghiệm độ trưng thực của âm thanh, sự trong sáng của tiết tấu cũng như khả năng tái tạo âm thanh một cách hoàn hảo của các thiết bị kể trên mà không làm ảnh hưởng đến người khác.
Một điểm đáng chú ý là toàn bộ sản phẩm này chỉ được bán trong năm 2010 và chúng đều có logo chứng nhận 100 năm cũng như nhà sản xuất chỉ đưa ra 2 mức giá chung là 2.499USD và 499USD cho toàn bộ 7 sản phẩm này.

Dòng sản phẩm xem phim, giải trí gia đình của Denon

denon - 100 năm lịch sử
Đầu Blu-ray DBP-A100 và AVR-A100
Bộ sưu tập Anniversary Product Collection là những thiết bị âm thanh cao cấp được thiết kế và sản xuất đặc biệt nhằm mang đến một chất lượng hoàn hảo nhân dịp kỷ niệm đặc biệt này. 
Không chỉ sở hữu âm thanh vòm 9.2 kênh, công nghệ Denon Link 4th thông qua kết nối HDMI cho phép kết nối với nhiều thiết bị kỹ thuật số khác cùng lúc, amply xem phim Denon AVR-A100 còn giúp người dùng có thể truy cập Internet một cách dễ dàng qua cổng kết nối được trang bị sẵn. Một bộ tụ đặc biệt cùng với các giắc cắm mạ vàng, chiếc chân đế làm từ hợp kim giang là những chi tiết khiến sản phẩm này đáng giá 2.499USD.
Hãng cũng không quên trang bị cho DBP-A100 hệ thống Denon Link 4th nhằm giảm nhiễu tối thiểu khi kết hợp với hệ thống âm thanh AVR-A100 qua cổng kết nối HDMI được trang bị sẵn.
Chiếc đầu Blu-ray Denon mang mã DBP-A100 với khả năng đọc hoàn hảo tất cả các loại đĩa, từ Blu-ray cho tới DVD, SACD, audio DVD, thậm chí là cả CD. Công nghệ khử rung lắc độc quyền của Denon với cấu trúc Direct Mechanical Constructor cùng với bộ khung được cấu tạo nhiều lớp đã tạo nên một hệ thống chống rung hoàn hảo.
denon dbp-a100
DBP-A100 vói khả năng đọc hoàn hảo tất cả các loại đĩa.


Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015


Có nhà máy với quy mô lớn và chế tạo hoàn toàn tại Thụy Điển, Supra Cables sở hữu dải sản phẩm rộng, lấy giá trị chất lượng làm cốt lõi, mang triết lý sản xuất không có chi tiết và những công nghệ thừa, giúp sản phẩm luôn đạt chỉ số chất lượng tối ưu trong cùng tầm giá.
Thương hiệu dây dẫn lâu đời nhất thế giới 
Vào những năm 1970, khái niệm về kỹ thuật chế tạo dây dẫn dành riêng cho lĩnh vực audio gần như là con số 0, dây tín hiệu, dây loa thường cấu tạo đơn giản như dây điện nhà với lõi đồng bọc cao su hoặc nhựa flex bên ngoài. Cho đến 1976, Tommy Jenving, nhà sáng lập Supra Cables, đã tạo nên một nhánh mới của ngành công nghiệp Hifi, khi lần đầu tiên ra mắt loại cáp nối từ ampli đến loa được thiết kế và chế tạo đặc biệt với tiết diện lõi lớn đến 2,5mm có tên gọi Supra Classic 2.5.
Thiết kế dây loa Supra Classic 2.5 đã tạo nên sự cải thiện đáng kể về chất lượng âm thanh trình diễn của hệ thống audio, điều mà trước giờ không ai nghĩ đến. Thiết kế cáp Classic 2.5 làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của audiophiles về các mắt xích truyền dẫn trong một bộ dàn âm thanh. Kể từ đó, ngành nghiên cứu, thiết kế dây dẫn được khai sinh, số lượng các nhà sản xuất cáp audio tăng lên đáng kể và cho đến tận ngày hôm nay, nhóm dây dẫn nói riêng và phụ kiện audio nói chung đang tiếp tục phát triển mạnh với những bước tiến mới đi cùng với sự phát triển của vật chất liệu.
Sau Classic 2.5, Tommy Jenving tiếp tục cho ra mắt các dòng Classic 4.0 (4 mm), Classic 10 (10mm)… những dòng dây loa của Supra đã liên tục tạo nên cơn sốt thị trường audio. Sau thành công của dây loa,  Supra Cables tiếp đà phát triển thẳng tiến với các thiết kế dây tín hiệu, dây nguồn và cho đến nay, hãng dây cáp Thụy Điển là một trong những thương hiệu dây có đầy đủ các dòng sản phẩm dây dẫn nhất hiện nay từ dây audio, dây hình HDMI/DVI, dây dành cho phòng thu, dây kết nối dành cho máy tính, dây mạng…


 

Triết lý thiết kế không có chi tiết và công nghệ thừa
Tommy Jenving, nhà sáng lập Supra Cables, cũng được xem là người khai sinh ngành cáp audio đã để lại hàng loạt các bằng sáng chế, phát minh mang tính bản lề cho những thiết kế dây dẫn sau này trong đó phải kể đến kỹ thuật chế tạo cáp với điện dung nhỏ hoặc thậm chí đạt mức zero (ở dòng cáp Sword) và công nghệ cách ly/chống nhiễu cho dây digital và đặc biệt là điện nguồn.
Vốn là một nhà khoa học, một kỹ sư giỏi từng làm việc tại Ericsson, Tommy Jenving đã sớm nhận thấy điểm bất hợp lý của việc sử dụng dây dẫn điện thông thường trong các hệ thống âm thanh. Từ những năm đầu thập niên 70, ông đã tiến hành những thử nghiệm dựa trên những kiến thức về vật lý và chứng minh bằng đo đạc cũng như thẩm âm để đi đến kết luận dây dẫn điện với lõi đồng vỏ cao su flex gây ảnh hưởng và hạn chế đáng kể khả năng tái tạo âm thanh.
Năm 1976, Supra Cables chính thức hoạt động cùng với sự ra đời của dòng cáp Classic 2.5 có tiết diện 2,5mm, lớn hơn nhiều so với các dây điện dân dụng (loại dây số 8) lúc bấy giờ. Ngoài ra, phần lõi cũng có cấu tạo đặc biệt sử dụng thiết kế đa lõi với rất nhiều dây đồng mảnh chống oxy hóa. Sau thành công của dòng dây loa Classic 2.5 được minh chứng bằng số đo cũng như sự cải thiện đáng kể về mặt trình diễn âm thanh, Tommy Jenving liên tục tạo nên những dấu ấn về công nghệ với các dòng sản phẩm nổi tiếng như Ply – Dây dẫn thiết kế có điện dụng thấp; Lo-Rad -  Dây nguồn được bọc cách ly chống gây nhiễu; Sword – Dòng cáp với điện dụng bằng 0…
Nhắc đến Tommy Jenving, người ta nhớ đến ông như là một nhà khoa học hơn là vai trò của một nhà quản lý, một ông chủ hãng audio. Với triết lý rất rắn “No-Nonsense-Design” không thiết kế những sản phẩm với các công nghệ hay chi tiết thừa, nên dây dẫn của Tommy luôn có ngoại hình gọn gàng, có độ tinh giản đến  mức tối đa với những công nghệ kỹ thuật hoàn toàn dựa trên vật lý. Ông có thể lý giải một cách rất dễ hiểu về những công nghệ mình sử dụng cũng như làm rõ từng vai trò của bất kỳ chi tiết nhỏ nào trong sản phẩm của mình.
Đối với Tommy, khoa học, công nghệ và ứng dụng phải gắn liền với sự giải thích logic kết hợp với các kiểm chứng về con số đo đạc và thẩm âm. Những cái gọi là khoa học “thần bí” hay những công nghệ quá đặc biệt chỉ dựa trên lý thuyết mà chưa qua kiểm chứng thực tế sẽ không bao giờ tồn tại trong thiết kế của Tommy Jenving.
Nhà máy sản xuất quy mô tại Thụy Điển
Số lượng các nhà sản xuất dây dẫn audio tăng đột biến trong thời gian gần đây, nhưng hầu hết là các thương hiệu với quy mô nhỏ và rất nhỏ, thậm chí được sản xuất ngay tại nhà riêng. Những thương hiệu nhỏ lẻ thường không thể tự sản xuất các linh kiện bên trong dây dẫn, mà chỉ đặt hàng từ nhà cung cấp thứ 3 và gia công theo một công thức riêng nào đó. Chính vì thế người ta thường ví các nhà thiết kế dây dẫn như một đầu bếp, họ sử dụng các kim loại như nguyên liệu chính, còn gia vị nêm nếm sẽ là sự lựa chọn riêng của các loại vật liệu cách điện, giáp dây…
Những nhà sản xuất có khả năng tự thiết kế và chế tạo toàn bộ các thành phần từ lõi, giáp và đặc biệt là các đầu jack như Supra Cables là rất hiếm. Thay vì chọn gia công một vài thành phần hay hoàn thiện sản phẩm ở Trung Quốc hoặc Đài Loan như xu hướng hiện nay, việc giữ nguyên qui trình chế tạo 100% tại Thụy Điển đã giúp Supra Cables kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất ở những phân đoạn nhỏ nhất nhằm đảm bảo chất lượng tối ưu đồng thời cho phép việc thử nghiệm rất nhanh những kỹ thuật mới mà không phụ thuộc vào việc đặt hàng linh kiện từ nhà cung cấp.
Supra Cables có nhà máy chế tạo rộng 1.500m² tại Ljungskile, Thuỵ Điển, đây cũng là một trong những công xưởng sản xuất dây dẫn audio xếp vào hàng lớn nhất trên thế giới. Hiện tại, Supra Cables có trên 50 nhân viên làm việc, mặc dù hầu hết các công đoạn sản xuất tại hãng đều được tự động hóa bằng máy nhưng để duy trì chất lượng sản phẩm đầu ra ở mức cao nhất có thể, hãng bố trí rất nhiều chuyên viên kiểm tra chất lượng ở từng công đoạn một để có thể phát hiện những sai sót nhỏ nhất. Với đặc thù thiết kế dây dẫn có nhiều chi tiết ẩn, kết cấu nhiều lớp, nên việc kiểm tra lỗi trong từng công đoạn sản xuất sẽ giúp hạn chế đến mức thấp nhất những sai biệt vốn không thể phát hiện nếu chỉ thực hiện kiểm tra ở khâu hoàn thiện sản phẩm như thông thường. Đây chính là điều mà Tommy Jenving luôn tuân thủ thực hiện kể từ khi thành lập thương hiệu Supra Cables và duy trì trong gần 40 năm nay.

Chỉ tính đến năm 2010, Supra Cables đã sản xuất hơn 7.000km dây dẫn các loại
Supra Cables có nhà máy tại Thụy Điển với diện tích 1.500m2, hơn 50 nhân viên, xếp vào loại lớn nhất hiện nay trong lĩnh vực sản xuất dây dẫn audio. Chỉ tính đến mốc năm 2010, Supra Cables đã sản xuất số lượng cáp với tổng chiều dài lên đến 7.000km, trong đó nhiều nhất là dây loa khoảng hơn 2.000km.
Những dòng sản phẩm của Supra Cables, dòng sản phẩm làm nên tên tuổi Supra Cables từ 1976 và cho đến nay vẫn không có đối thủ trong cùng tầm giá. Dòng dây loa Classic Series gồm 6 model từ Classic 1.6 cho đến 6.0 tương đương với tiết diện dây từ 1.6 đến 6mm, trong đó mẫu Classic 2.5 là sản phẩm nổi tiếng và có doanh số bán tốt nhất. Dòng Classic sở hữu những công nghệ đặc trưng của Supra Cables, sử dụng cấy trúc đa lõi bằng đồng có độ tinh khiết cao 5N (>99,999%) với lớp giáp làm từ chất liệu PVC được chế tạo với công thức đặc biệt giúp hạn chế hiện tượng nhiễu bề mặt. Bên cạnh đó, để triệt tiêu đến mức thấp nhất hiện tượng nhiễu bề mặt, Supra Cables ứng dụng kỹ thuật mạ thiếc trên bền mặt từng sợi lõi. Hiện tượng nhiễu do hiệu ứng tiếp xúc bề mặt giữa lõi dây và chất cách điện chính là nguyên nhân dẫn đến việc tăng các chỉ số như trở kháng, điện dung… vốn là tác nhân chính gây ảnh hưởng đến chất lượng truyền dẫn tín hiệu âm thanh.

 

Supra Ply
Để hạn chế các loại nhiễu làm tăng trở kháng, điện dung, nhiều nhà sản xuất dân dẫn đã chọn phương pháp tách rời 2 lõi dây chính hoặc trải rộng các sợi lõi trên tiết diện phẳng, riêng Supra Ply gần như đi ngược lại khi ép sát hai nhóm dây “+” và “-” lại theo kiểu sandwich. Để có thể đạt được bề mặt tiếp xúc tối đa, hai nhóm dây đa lõi được bọc trong lớp giáp có tiết diện chữ nhật, xếp sát nhau, trước khi được bọc lớp giáp ngoài cùng (cũng có tiết diện hình chữ nhật). Thiết kế này không chỉ giúp hạn chế trở kháng và điện dung của từng nhóm dây mà còn loại bỏ được hiện tượng nhiễu bề mặt do hiện tượng khử lẫn nhau giữa hai nhóm lõi. Hệ quả của kỹ thuật này được chứng minh trên cả đo đạc lẫn thẩm âm, chất lượng trình diễn của hệ thống sử dụng dây Supra Ply được cải thiện rõ về độ động và chi tiết các dải.
Supra 3.4/S là model dây cao cấp trong dòng cáp Ply được trang bị thêm công nghệ chống ảnh hưởng nhiễu từ các loại sóng của môi trường như EMI, RFI, Bluetooth, sóng điện thoại… đồng thời cũng ngăn sinh điện từ trường từ bản thân của dây. Dây Ply 3.4/S được bọc thêm một lớn giáp chống nhiễu với đầu dây mass được nối với cọc mass hoặc vỏ máy của ampli để xả các nhiễu và điện từ trường. Dây Supra 3.4/S đoạt nhiều giải thưởng lớn có ưu điểm giảm độ nhiễu nền và tăng các chi tiết dù rất nhỏ thường bị làm suy hao nhiễu trong quá trình truyền dẫn.


 
Supra Sword
Supra Sword là dòng dây dẫn cao cấp được hãng đóng dấu “high-end” nhưng với mức giá rất hợp lý so với chất lượng trình diễn. Sword có kết cấu phức tạp, mỗi nhóm dây đại diện cho một cực có cấu tạo đa lõi gồm 24 dây đơn bằng chất liệu đồng mạ thiếc chia làm 2 nhóm dây nhỏ hơn (mỗi nhóm 12 dây). Hai nhóm này được xoắn ngược chiều nhau, chính kết cấu đi dây ngược hướng này giúp triệt tiêu hiệu quả vùng điện từ trường sinh ra trong quá trình truyền dẫn đồng thời giảm chỉ số điện trở và điện dung đến mức thấp đáng kể. Bên cạnh đó, kế cấu dây đa lõi xoắn và bọc cách điện từng sợi một đã loại gần như triệt để hiện tượng nhiễu bề mặt, giúp tạo nên một sân khấu nền vững và mở rộng thêm nhiều chi tiết ở hai đầu của dải tần.




Supra Quadrax
Dòng dây loa đầu bảng Quadrax là sự phối hợp của nhiều công nghệ kỹ thuật trong suốt gần 4 thập kỷ chế tạo dây dẫn của Supra Cables. Dây loa Quadrax sử dụng kết cấu dây theo công nghệ Star-Quad lõi tứ ghép cân bằng đối xứng. Mỗi cực dây của Supra Quadrax sẽ bao gồm 4 nhóm dây, 2 âm và 2 dương bố trí đối xứng xung quanh một lõi cách điện PE nhỏ ở giữa. Trong đó mỗi nhóm có cấu tạo khá cầu kỳ, chúng không bện vào nhau mà được quấn xung quanh một lõi cách điện PE theo từng lớp với tổng cộng 30 dây đồng mạ thiếc đường kính 0,15mm. Cách bện dây của Quadrax cũng được tối ưu hóa theo kết cấu riêng giúp giảm điện dung.
Sự kết hợp giữa kỹ thuật Star-Quad giúp các cặp dây âm/dương khử chéo các vùng điện từ trường, kết hợp với kết cấu bọc chống nhiễu tối ưu cho từng nhóm dây đã giúp hạ chỉ số điện dung giảm đến mức đáng kể 0.3mH/m, đây là một chỉ số thấp kỷ lục so với các dây loa cao cấp trên thị trường.

Supra LoRad
LoRad – Low Radiation, là dòng cáp nguồn duy nhất của Supra và được đánh giá rất cao với nhiều giải thưởng âm thanh lớn. Supra LoRad sở hữu công nghệ bọc chống nhiễu điễn từ trường và cũng là dòng dây nguồn duy nhất được cấp bản quyền công nghệ này. LoRad gồm 2 phiên bản 1.5 và 2.5 tương đương với tiết diện lõi 3 x 1.5/2.5mm.
Hiện tượng nhiễu điện từ trường từ chính bên trong dây nguồn là nguyên nhân đưa nhiễu ngược lên hệ thống âm thanh mà ít người chú ý đến. Để loại bỏ hiện tượng tự nhiễu này, dây nguồn Supra LoRad ứng dụng 2 công nghệ, đầu tiên, hãng trang bị một lớp vỏ chống nhiễu, đây là kỹ thuật do chính Tommy Jenving phát minh. Bộ giáp chống nhiễu không chỉ ngăn điện từ trường phát ra từ bên trong dây dẫn, nó còn tác dụng loại trừ các loại nhiễu ngoại ảnh hưởng đến điện nguồn phần lớn từ các loại sóng như Radio, sóng điện thoại, Wifi… Kế đến bộ 3 lõi dây được xoắn với nhau với bước xoắn ngắn cũng góp phần loại bỏ vùng điện từ trường bên trong dây dẫn. Ngoài ra, thế hệ dây nguồn LoRad MKII còn được bọc thêm một lớp chống nhiễu tốt hơn sử dụng vật liệu mới từ chất liệu nhựa bán dẫn. Lớp bọc mới này về mặt vật lý sẽ giúp tăng cường độ dẻo nhưng cũng gia tăng độ bền của giáp, bên cạnh đó, các ưu điểm về giảm nhiễu bề mặt, hạn chế điện dung và nhất là khả năng chống nhiễu ngoại cũng đều được cải thiện. So với thế hệ trước, Supra LoRad MKII, được đánh giá có hiệu ứng âm hình 3D và dải trầm tốt hơn.
Supra HDMI HD5/HD7
Supra Cables là một trong những nhà sản xuất dây dẫn hi-end đầu tiên trình làng dây HDMI cao cấp kể từ năm 2004. Sau suốt 9 năm nghiên cứu, hiện tại mẫu dây dẫn Supra HD5 và HD7 của hãng được xem là một trong những cáp HDMI tốt nhất hiện nay với khả năng truyền dẫn tín hiệu ổn định trên đoạn đường dài và hỗ trợ tín hiệu hình ảnh 4K/3D. Supra HD5/HD7 là một trong số ít dòng cáp HDMI có thể truyền tải tín hiệu âm thanh/hình ảnh digital không nhiễu trên đoạn đường dài lên đến 32m với băng thông đạt 1.100MHz!
Bên trong Supra HDMI HD5/HD7 có 5/7 cặp lõi dây tiết diện lớn 0.26mm, được bọc cách điện bằng PE và bên ngoài cùng có đến 3 lớp giáp giúp tránh các loại nhiễu tín hiệu cho phép đi dây trên quãng đường dài với chất lượng vẫn không bị suy hao. Một trong những ưu điểm của dây Supra HDMI HD5/HD7 chính là bộ jack kết nối do chính hãng thiết kế với kết cấu chắc chắn, phần tiếp xúc làm từ đồng tinh khiết mạ vàng giúp hạn chế hiện tượng tăng trở kháng, cũng như ngăn các loại nhiễu xâm nhập.



Supra USB
USB là một trong những dòng cáp mới nhất của Supra Cables và cũng là dòng sản phẩm đạt được nhiều giải thưởng 5 sao của các tạp chí chuyên ngành trong đó có What Hi-Fi của Anh Quốc. Dây USB 2.0 tốc độ cao của Supra được thiết kế để tối ưu tín hiệu truyền dẫn và loại bỏ các lỗi sai biệt về bit rate gây nên các nhiễu âm có thể dễ dàng nghe được khi kết nối giữa các thiết bị PC/Media Server với các đầu DAC. Cáp USB của Supra cho phép truyền dẫn tín hiệu ổn định không nhiễu trên quãng đường dài lên đến 15m, một con số ấn tượng so với mức tiêu chuẩn 5m hiện nay. Supra USB 2.0 có tổng cộng 19 lõi dây đơn đường kính 0.127mm làm từ chất liệu đồng tinh khiết mạ thiếc được chia làm 2 nhóm dây, bọc cách điện bằng vật liệu PE, màng nhôm và tối ưu trở kháng luôn ở mức 90ohm.
Nếu như bạn quan tâm đến dây dẫn audio có thiết kế bắt mắt với các lớp giáp to, cầu kỳ, cùng những công nghệ cũng như vật chất liệu đặc biệt, thì Supra Cables không phải là lựa chọn phù hợp. Nhưng nếu bạn cần tìm dây dẫn với những công nghệ được chứng minh về mặt đo đạc lẫn thẩm âm, có khả năng loại bỏ những nhiễu tín hiệu trên đường truyền và nhất là toàn bộ các thành phần và chi tiết nhỏ nhất đều được thiết kế bởi chính hãng thì Supra Cables là một lựa chọn đáng tin cậy. Bên cạnh đó còn phải kể đến một ưu điểm đáng kể làm nên tên tuổi của Supra Cables chính là hiệu quả trình diễn luôn vượt khỏi khung giá so với các đôi thủ cùng đẳng. 


Theo Nghe nhìn Việt Nam


Để biết thêm thông tin chi tiết về sản phẩm và được tư vấn âm thanh tốt nhất xin liên hệ với chúng tôi AUDIOHANOI - ĐẠI LÝ PHÂN PHỐI ÂM THANH CHÍNH HÃNG.

Địa chỉ: 50 Lê Ngọc Hân - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 0985 547 778


Website: audiohanoi.com - audiomart.vn